Quân tử phải “thận độc”: Từ chối hay tham đắm sắc dục, hậu quả khác nhau thế nào?

Quân tử phải “thận độc”: Từ chối hay tham đắm sắc dục, hậu quả khác nhau thế nào?
Nếu người biết từ chối sắc dục giữ được phúc lành trường cửu, thì kẻ buông thả theo dâm dục lại hủy hoại tiền đồ chỉ trong chớp mắt. (Ảnh: Public Domain)

Cổ nhân dạy: “Tác sự tu tuần thiên lý, dục nghiễm phúc điền, tu bằng tâm địa” (Làm việc thuận theo lý Trời; muốn mở rộng ruộng phúc, ắt phải bồi đắp mảnh đất tâm can). Việc tích phúc hành thiện của đời người có nhiều nẻo, nhưng căn bản nhất vẫn nằm ở hai điều: quý tiếc sinh mệnh và giữ thân không phạm tà dâm.

Sách Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn chỉ rõ: Kẻ đắm chìm nơi sắc dục, hành vi bất chính sẽ tự bôi nhọ thanh danh, làm ô uế thiên tính lương thiện. Trái nghịch đạo Trời ắt chuốc lấy tai ương; họa báo của sắc dục thường giáng xuống chuẩn xác và khôn lường. Ngược lại, ân phúc sâu dày xưa nay vốn chỉ trao cho những người biết giữ mình trong sạch, coi trọng đức hạnh, giữ ngọc gìn vàng.

Từ xưa đến nay, một ý niệm dâm tà khởi sinh nơi kín đáo tuy mắt trần chưa thấy, nhưng thần minh đều thấu tỏ. Kẻ buông tuồng dục vọng không chỉ khiến phúc lộc nhanh chóng tiêu tan, gia đình ly tán, mà tiền đồ xán lạn cũng bỗng chốc hóa tro tàn; người vốn định số giàu sang lại hóa ra bần hàn cơ cực, kẻ đáng được thọ khang lại đoản mệnh chết yểu. Báo ứng hai nẻo họa - phúc từ sắc dục phân minh qua từng trang sử sách.

Phần 1: Giữ mình thanh bạch, phúc trạch dài lâu

1. Giữ lễ nghiêm minh, rạng danh năm đời Tiến sĩ

Thời Bắc Tống, Lâm Mậu Tiên người đất Tín Châu (Giang Tây) nổi tiếng tài học uyên bác nhưng gia cảnh bần hàn, ngày đêm đóng cửa chuyên tâm dùi mài kinh sử. Sau khi ông đỗ kỳ thi hương, người vợ của phú thương kế bên vốn chê chồng ít học, lại thầm ngưỡng mộ tài danh của Lâm Mậu Tiên, bèn nhân đêm thanh vắng lẻn sang phòng sách của ông bày tỏ ý tình.

Lâm Mậu Tiên nghiêm sắc mặt, cự tuyệt dứt khoát: “Nam nữ hữu biệt, lễ pháp bất dung. Trời đất quỷ thần hiện diện khắp nơi, nàng há có thể làm nhơ nhuốc phẩm hạnh của ta?”

Người phụ nữ nghe xong hổ thẹn vô cùng, cúi đầu lui về. Đến năm Thiên Thánh thứ tám (đời Tống Nhân Tông), Lâm Mậu Tiên thi đỗ Tiến sĩ. Nhờ tài năng và phẩm hạnh thanh cao, ông được triều đình trọng dụng, giữ chức Thái thường tự khanh (hàng Nhị phẩm). Về sau, cả bốn người con trai của ông đều lần lượt đỗ đạt Tiến sĩ, gia tộc được người đời ca ngợi là “Một nhà năm Tiến sĩ”, vinh hiển nhiều đời.

Lời mở đầu sách Trung Dung có viết: Quân tử tất thận kỳ độc dã (Người quân tử ắt phải cẩn trọng cả khi ở một mình). "Thận độc" chính là cảnh giới dù ở nơi phòng tối không ai hay biết, người quân tử vẫn cung kính giữ mình trước luân thường đạo lý; còn kẻ tiểu nhân hễ khuất mắt người đời liền phóng túng, “không điều gì kiêng dè”. Câu nói của Lâm Mậu Tiên: “Nam nữ hữu biệt” là giữ chữ Kính, còn “Trời đất quỷ thần hiện diện” chính là giữ chữ Sợ. Đạo tu thân của cổ nhân chẳng qua cũng nằm gọn trong sự kính sợ ấy.

2. Khuyên người bỏ tà dâm, cảm động Thần minh cải số

Đời nhà Minh, tại phủ Gia Hưng có nho sinh Lý Định bản tính chất phác, đôn hậu. Thấy bạn học hay người quen tụ tập bàn tán chuyện bất chính, dâm ô, ông đều ra sức can ngăn. Ông nhận thấy thói buôn chuyện thị phi, bới móc đời tư và lan truyền dâm thư, lời dâm rất tổn hại âm đức của người trẻ tuổi, bèn soạn bài Giới khẩu nghiệp văn để phân tích điều hơn lẽ thiệt, khuyên người đọc sách thiện và từ bỏ tà dâm. Nhờ lời khuyên răn của ông, vô số người đã thức tỉnh, biết sửa mình hướng thiện.

Năm ấy, Lý Định lên kinh ứng thí. Đêm trước ngày xướng danh bảng vàng, ông nằm mộng thấy người cha đã khuất hiện về bảo: “Kiếp trước, con đỗ Tiến sĩ từ thuở thiếu niên, nhưng vì cậy tài kiêu ngạo, thiếu lòng khiêm cung nên đời này Thượng Thiên định số cho con thi mãi không đỗ, chẳng thể làm quan. Khoa này vốn có một sĩ tử định sẵn đoạt Giải nguyên, năm sau ắt đỗ Tiến sĩ. Ngờ đâu tháng trước kẻ ấy đã tham dâm làm nhục một thiếu nữ chưa chồng, công danh lập tức bị tước sạch.

Văn Xương Đế Quân xét thấy con soạn 'Giới khẩu nghiệp văn', cảm hóa được vô số kẻ mê muội tránh khỏi vết xe đổ tà dâm, âm đức tích lũy ngút trời. Bởi thế Ngài đã tâu lên Thượng Đế, lấy công danh Giải nguyên của kẻ phạm sắc dâm kia ban thưởng cho con. Hãy tiếp tục tu đức để đáp đền ân trời.”

Hôm sau yết bảng, Lý Định quả nhiên đỗ Giải nguyên. Ra làm quan, ông trước sau giữ mình thanh liêm chính trực, thăng tiến đến chức Ngự sử. Khuyên người tránh xa sắc dục, công đức to lớn đủ sức cảm động trời xanh, biến hung thành cát.

3. Đỉnh cao của định lực: “Tọa hoài bất loạn” và đạo tự biết mình

Nói về định lực trước nữ sắc, câu thành ngữ nổi tiếng “Tọa hoài bất loạn” (Ngồi lòng không loạn) gắn liền với bậc hiền nhân Liễu Hạ Huệ thời Xuân Thu.

Vào một đêm mùa đông giá rét buốt xương, có người phụ nữ cơ nhỡ không nơi nương tựa chạy đến nhà Liễu Hạ Huệ xin trú nhờ. Nhận thấy người phụ nữ sắp lả đi vì lạnh cóng, tính mạng lâm nguy, Liễu Hạ Huệ đã cho nàng ngồi vào lòng mình, lấy áo ngoài bọc kín lại, dùng thân nhiệt của mình sưởi ấm cho nàng qua cơn nguy kịch. Suốt một đêm dài, tâm ý ông vẫn phẳng lặng như gương, không mảy may gợn chút tà niệm. Hành động xuất phát từ tâm từ bi cứu mạng thuần khiết của bậc quân tử đã được Khổng Tử và Mạnh Tử ca ngợi là bậc đại hiền.

Tuy nhiên, người phàm trần mấy ai có được định lực như Liễu Hạ Huệ? Sách Kinh Thi (phần Tiểu Nhã do Mao Hanh chú giải) có ghi lại một câu chuyện sâu sắc:

Ở nước Lỗ, có một người đàn ông độc thân ở cạnh nhà một góa phụ trẻ. Đêm mưa bão lớn làm sập nhà, người góa phụ gõ cửa xin tá túc, nhưng người nam nhân kiên quyết cài then cửa không cho vào.

Người phụ nữ đứng ngoài cửa sổ trách: “Sao chàng không mở lòng thương, học theo Liễu Hạ Huệ năm xưa dùng thân sưởi ấm người rét mà cả nước chẳng ai chê cười?”

Người đàn ông điềm đạm đáp: “Liễu Hạ Huệ mở cửa là cứu người vì tâm ngài đã không loạn; còn ta đóng cửa vì biết tâm ta chưa thể đạt tới cảnh giới ấy. Ta không mở cửa, chính là dùng cách vụng về của ta để học theo cái tâm giữ lễ của Liễu Hạ Huệ vậy.”

Cổ nhân dạy: “Vạn ác dâm vi thủ” (Trong vạn cái ác, dâm đứng hàng đầu). Người có trí huệ lớn không chỉ biết giữ tâm ngay thẳng, mà còn phải biết lượng sức định lực của bản thân để chủ động tránh xa cạm bẫy, tuyệt đối không tự đặt mình vào hoàn cảnh cám dỗ.

Phần 2: Tham đắm sắc dục, tự rước diệt vong

Nếu người biết từ chối sắc dục giữ được phúc lành trường cửu, thì kẻ buông thả theo dâm dục lại hủy hoại tiền đồ chỉ trong chớp mắt.

Trạng nguyên hóa bần hàn: Bài học cảnh tỉnh của Lục Trọng Tích

Vào niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh Thế Tông, con trai của Lục Khể Trai là Lục Trọng Tích nổi tiếng là thần đồng. Từ nhỏ ông đã thông minh xuất chúng, thơ phú tuyệt luân, kinh sử chỉ cần lướt qua một lượt là thuộc làu làu.

Năm mười bảy tuổi, Trọng Tích theo thầy học họ Khâu lên kinh sư trọ học chờ khoa cử. Tại quán trọ, thấy bên nhà hàng xóm đối diện có một thiếu nữ nhan sắc diễm lệ, Trọng Tích bèn sinh tâm tà niệm, thường lén đứng ngắm nhìn. Người thầy họ Khâu chẳng những không nghiêm khắc răn dạy học trò phép tắc “Phi lễ chớ nhìn” để chuyên tâm kinh sử, mà trái lại còn đồng lõa, hiến kế:

“Miếu Đô Thành Hoàng ngoài cửa Tuyên Vũ rất linh thiêng, cầu chi được nấy. Sao trò không đến đó khấn xin cho toại nguyện chuyện trăng hoa?”

Nghe lời xúi giục u mê, Lục Trọng Tích liền sắm lễ đến miếu khấn cầu tà sự. Đêm hôm ấy trở về, Trọng Tích bỗng giật mình tỉnh giấc, nằm ôm mặt khóc lóc thảm thiết. Mọi người kinh hãi gặng hỏi, Trọng Tích run rẩy thuật lại giấc mộng kinh hoàng:

“Ta vừa mơ thấy Đô Thành Hoàng bắt cả hai thầy trò đến công đường, nghiêm khắc quở phạt. Thần sai lật sổ công danh: Dưới tên ta vốn ghi rõ: 'Khoa Giáp Tuất đỗ Trạng nguyên'; còn dưới tên người thầy họ Khâu thì bảng công danh trống trơn.

Thần Đô Thành Hoàng giận dữ phán: Kẻ sắp làm Trạng nguyên không lo tu nhân tích đức, giữ lòng ngay chính, lại dâng lễ cầu xin chuyện dâm ô xú uế; kẻ làm thầy không dạy điều lễ nghĩa, lại xúi học trò làm bậy. Nay tấu phạt tước bỏ hoàn toàn danh vị Trạng nguyên và cả công danh trọn đời của Lục Trọng Tích; còn người thầy họ Khâu thì lập tức bị đoạn tuyệt dương thọ để răn đe thế gian!”

Lời kể vừa dứt, một thư đồng hớt hải chạy vào báo tin: Thầy giáo họ Khâu vừa phát bệnh dịch tả cấp tính, thổ tả ngã gục ra đất chết bất đắc kỳ tử.

Về sau, tiền đồ của Lục Trọng Tích ứng nghiệm chuẩn xác như lời thần báo mộng: đi thi lần nào trượt lần ấy, tài hoa mai một, sống đời bần hàn cơ cực cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Từ ngôi vị Trạng nguyên rạng rỡ tổ tông rơi thẳng xuống đáy vực nghèo hèn, cái giá phải trả cho một thoáng dâm niệm thật vô cùng đắt đỏ.

Lời kết

Cổ đức có câu: “Gieo nhân nào gặt quả nấy”. Khác biệt giữa người quân tử và kẻ tầm thường đôi khi chỉ nằm ở một ranh giới rất mỏng manh: tự chủ trước dục vọng.

Người giữ được tâm "thận độc", biết sợ Trời đất thần minh, từ chối sắc dục không chính đáng thì phúc phận tự nhiên hội tụ, con cháu hiển vinh. Kẻ cậy tài khinh suất, phóng túng tâm dâm thì dẫu số mạng có mang phúc phận Trạng nguyên cũng tiêu tán sạch sành sanh. Lấy chuyện xưa soi việc nay, giữ thân trong sạch và kiềm chế dục niệm không chỉ là đạo đức luân lý, mà chính là cách bảo toàn sinh mệnh và phúc báo vững bền nhất của đời người.

Theo Ntdtv
Bình Nhi biên dịch

Đọc tiếp