Khoan dung là mỹ đức, đố kỵ hại người hại mình

Khoan dung là mỹ đức, đố kỵ hại người hại mình
Học cách tán dương người hiền, hoan hỷ trước thành công của người khác và dung nạp sự khác biệt. (Ảnh: Public Domain)

Năm nghìn năm văn hiến đã đúc kết nên tầng tầng nội hàm sâu sắc của đạo lý làm người. Những câu chuyện lưu truyền qua bao đời nay vẫn âm thầm soi sáng chuẩn mực đạo đức Á Đông: lấy nhân hậu, từ bi làm gốc; lấy khoan dung, độ lượng làm mỹ đức; và coi tâm đố kỵ là điều đáng hổ thẹn nhất. Xưa nay, đố kỵ chưa từng mang lại điều gì tốt đẹp, chỉ rước về mầm tai vạ “hại người rồi rốt cuộc hại chính mình”.

Khổng Tử từng dạy trong thiên Nhan Uyên (Luận Ngữ): “Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị.” Nghĩa là, người quân tử luôn vun vén, giúp người khác thành tựu điều tốt đẹp, chẳng bao giờ dung dưỡng hay trợ giúp việc xấu; kẻ tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại. Người quân tử tâm rộng như biển, không tranh đua hơn thua với đời, luôn lấy thiện đãi người nên thấy ai làm được việc tốt thì mừng vui nâng đỡ. Ngược lại, kẻ tiểu nhân tâm địa hẹp hòi, tư lợi bủa vây; hễ thấy người khác vượt trội hơn mình liền sinh lòng đố kỵ, ấm ức bất bình, mưu toan kéo người xuống để thỏa mãn bản thân.

Đố kỵ khởi sinh từ sự ích kỷ và tầm nhìn thiển cận. Người đức bạc tài mọn thường không chịu thừa nhận thiếu sót của bản thân mà chỉ chăm chăm sợ thiên hạ vượt mặt. Hôm nay lo người ta hơn mình, ngày mai sợ kẻ khác đi trước, cả đời sống trong bồn chồn, bức bối. Đáng sợ hơn, khi tâm đố kỵ biến thành hành vi hãm hại người hiền lương, kẻ đó dẫu có đắc thế nhất thời thì rốt cuộc cũng tự chuốc lấy kết cục bi thảm, cô độc, không tránh khỏi quy luật nhân quả phân minh.

Lịch sử và văn học cổ điển phương Đông đã để lại nhiều tấm gương cảnh tỉnh sâu sắc về vết xe đổ này.

Chu Du: Ôm hận tự bại bởi thói hiếu thắng

Trong tiểu thuyết diễn nghĩa, điển tích Gia Cát Lượng “ba lần chọc tức Chu Du” là một trong những hồi bi tráng và quen thuộc nhất.

Xét về tài nghệ, Chu Du tuổi trẻ đắc chí, phong nhã đĩnh đạc, văn võ song toàn. Mới 24 tuổi đã được Tôn Sách phong làm Kiến Xương Trung Lang Tướng; tuổi 34 thống lĩnh đại quân Giang Đông, dùng mưu lấy ít địch nhiều làm nên thắng lợi lẫy lừng trong trận Xích Bích. Tuy nhiên, Chu Lang lại mắc một khiếm khuyết chí mạng: lòng dạ quá hiếu thắng, không dung được kẻ có tài hơn mình. Nhìn thấy Khổng Minh liệu sự như thần, Chu Du luôn canh cánh mối hiểm họa cho Đông Ngô, nhiều phen tìm mưu lập kế để trừ khử.

Sau trận Xích Bích, hai nhà Tôn – Lưu tranh chấp địa bàn chiến lược Kinh Châu. Chu Du khinh suất cho rằng Kinh Châu đã ở trong tay áo, bèn giao ước nếu mình không lấy được thì mới nhường Lưu Bị. Nào ngờ, sau khi Chu Du đánh đổi máu xương, trúng tên độc của Tào Nhân mới phá được quân Tào, thì Khổng Minh đã dùng kế “điệu hổ ly sơn”, đoạt lấy Kinh Châu ngay trước mắt. Chu Du tức giận thét lên một tiếng, vết thương nứt toác. Đó là lần tức thứ nhất.

Lần thứ hai, Chu Du bày mưu “mỹ nhân kế”, dụ Lưu Bị sang Đông Ngô kết duyên với Tôn phu nhân nhằm giam lỏng. Chẳng ngờ Khổng Minh trao ba cẩm nang cho Triệu Vân, biến mưu giả thành hôn sự thật. Khi Chu Du đem quân đuổi theo bờ sông, lại bị phục binh Thục đẩy lui. Tiếng quân Thục đồng thanh hô vang: “Chu Lang diệu kế an thiên hạ, đã mất phu nhân lại thiệt quân!” như nhát dao cứa vào lòng tự ái ngút trời. Chu Du uất nghẹn ngã gục xuống thuyền. Đó là lần tức thứ hai.

Đến lần thứ ba, viện cớ “mượn đường phạt Thục” để kỳ thực tập kích Kinh Châu, mưu sâu lại bị Khổng Minh bóc trần tại trận. Nhìn cờ hiệu quân Thục phấp phới trên tường thành, Chu Du hổ thẹn, phẫn uất cùng cực đến mức thổ huyết, ngã ngựa. Trước khi nhắm mắt xuôi tay ở tuổi 36, Chu Du ngửa mặt lên trời than thở một câu ai oán: “Trời đã sinh Du, sao còn sinh Lượng!”

Cái chết của Chu Du trên trang sách chính là bi kịch của một bậc tài hoa nhưng thiếu đi dung lượng của tâm hồn. Khổng Minh vì đại cuộc mà hết lòng nâng đỡ liên minh Tôn – Lưu, còn Chu Du lại biến mọi cơ hội hợp tác thành chiến trường tranh đua vị trí độc tôn. Người không dung được người hiền tài, cuối cùng lại tự chôn vùi chính sinh mệnh mình trong ngọn lửa sân hận.

Bàng Quyên: Dã tâm tàn độc hại bạn, chuốc lấy diệt vong

Nếu Chu Du đố kỵ vì lòng tự phụ, thì Bàng Quyên thời Chiến Quốc lại tàn nhẫn và nham hiểm hơn gấp bội.

Tôn Tẫn và Bàng Quyên vốn là đồng môn theo học binh pháp Quỷ Cốc Tử. Sư huynh Tôn Tẫn đôn hậu, khiêm nhường, ngày đêm nghiên cứu binh thư; sư đệ Bàng Quyên mưu mô, hẹp hòi, luôn nóng vội cầu danh đoạt lợi. Nhận thấy tâm tính bất thiện của đệ tử, sư phụ thường nghiêm khắc chỉ bảo, khiến Bàng Quyên ôm lòng hậm hực, cho rằng thầy thiên vị sư huynh.

Về sau, Bàng Quyên xuống núi trước, được vua Ngụy phong làm đại tướng quân, nắm trong tay binh quyền lừng lẫy. Thế nhưng giữa lúc công danh hiển hách, nỗi sợ Tôn Tẫn vượt trội hơn mình lại ám ảnh Bàng Quyên ngày đêm. Nuôi dã tâm triệt hạ tận gốc “mối họa tương lai”, Bàng Quyên giả vờ gửi thư mời Tôn Tẫn sang nước Ngụy để cùng chia sẻ vinh hoa. Khi Tôn Tẫn chân thành tới nơi, Bàng Quyên lập tức bày kế vu cáo bạn mưu phản. Vua Ngụy nổi giận, khép Tôn Tẫn vào tội gọt bỏ hai xương bánh chè, thích chữ lên mặt rồi tống vào ngục tối.

Chịu nỗi oan khiên cùng cực, Tôn Tẫn giả điên để thoát hiểm, rồi được sứ giả nước Tề bí mật cứu về Lâm Tri. Nhờ tài năng quân sự xuất chúng, ông được Tề Uy Vương phong làm quân sư, cùng danh tướng Điền Kỵ chỉ huy đại quân.

Năm 343 TCN, quân Ngụy do Bàng Quyên chỉ huy tấn công nước Hàn. Tôn Tẫn dùng kế “rút bếp giảm quân”, vờ như quân Tề khiếp nhược bỏ trốn từng ngày. Bàng Quyên đắc thắng khinh địch, chỉ dẫn kỵ binh tinh nhuệ ngày đêm đuổi riết. Đoán chắc quân Ngụy sẽ tới hẻm núi hiểm trở Mã Lăng lúc trời nhá nhem tối, Tôn Tẫn cho bố trí một vạn cung thủ phục kích hai bên sườn núi, hẹn khi nào thấy đốm lửa bốc lên thì đồng loạt khai tiễn. Tại một cây cổ thụ ven đường, Tôn Tẫn cho cạo sạch lớp vỏ, khắc dòng chữ: “Bàng Quyên tử ư thử thụ chi hạ” (Bàng Quyên chết dưới cây này).

Đúng như dự liệu, giữa đêm tối mịt mù, Bàng Quyên thúc ngựa tới chân cây đại thụ. Thấy có dấu vết trên thân cây, ông ta bèn sai đốt lửa để soi đọc. Đốm lửa vừa bừng sáng, hàng vạn mũi tên quân Tề như mưa rào trút xuống. Trong cơn hỗn loạn, tuyệt vọng nhận ra mưu kế của Tôn Tẫn, Bàng Quyên uất ức rút kiếm tự vẫn, chỉ kịp để lại lời oán hận: “Trận này rốt cuộc lại làm nên danh tiếng cho thằng nhãi ấy!”

Kẻ đem hết tâm cơ hãm hại bạn bè đến tàn phế chỉ vì sợ người ta giỏi hơn mình, cuối cùng lại biến xương trắng của mình thành nấc thang đưa tên tuổi người bạn ấy lưu danh thiên cổ. Lòng đố kỵ há chẳng phải trò cười bi kịch nhất của số phận hay sao?

Thân Công Báo: Đố kỵ thiêu rụi nghìn năm tu đạo

Trong tác phẩm thần thoại Phong Thần Diễn Nghĩa, hình tượng Thân Công Báo là một minh chứng điển hình cho việc một niệm đố kỵ có thể phá hủy căn cơ tu dưỡng bấy lâu.

Thân Công Báo cùng bái Nguyên Thủy Thiên Tôn làm thầy, là sư đệ của Khương Tử Nha nơi Côn Lôn. Thấy Tử Nha tài trí bình thường nhưng lại được sư tôn tin cậy trao cho Bảng Phong Thần và gánh vác sứ mệnh phò Chu phạt Trụ, Thân Công Báo sinh lòng ghen ghét khôn nguôi. Ông ta cậy mình có thuật cởi đầu bay lượn, đạo hạnh thần thông biến hóa, luôn cho rằng mình xứng đáng hơn Tử Nha.

Chỉ vì chấp niệm tranh cao thấp ấy, Thân Công Báo đi khắp tam sơn ngũ nhạc, đem ba tấc lưỡi xúi giục vô số tiên gia nhập cuộc, bày hết trận pháp này đến trận pháp khác nhằm hãm hại Khương Tử Nha và ngăn cản nghĩa quân Tây Chu.

Từng được sư tôn tha thứ khi lập lời thề độc: “Nếu còn cản trở việc phong thần, nguyện lấy thân mình lấp biển Bắc Hải”, nhưng ma tâm đố kỵ đã làm Thân Công Báo mù quáng. Ông ta bội ước, tiếp tục khơi mào cho trận Vạn Tiên đẫm máu, kéo theo hàng nghìn tu sĩ vì tâm tranh đấu và oán thù mà rớt đài tu đạo, vùi thây nơi cõi trần.

Cuối cùng, Nguyên Thủy Thiên Tôn giáng trần thu phục, sai lực sĩ khăn vàng cuốn Thân Công Báo ném xuống lấp miệng mắt biển Bắc Hải, đúng như lời thề xưa. Tu luyện ngàn năm khổ ải, chỉ vì một đốm lửa vô minh của lòng đố kỵ mà vạn kiếp trầm luân dưới đáy biển sâu lạnh lẽo.

Cổ ngữ có câu: “Tâm bao dung vạn vật thì vạn vật quy về, lòng hẹp hòi so đo thì tự chuốc cô độc.”

Chu Du ôm hận mà thác, Bàng Quyên phẫn uất tự vẫn, Thân Công Báo trầm luân đáy biển sâu... Tất cả đều khởi đầu từ một gốc rễ duy nhất: không thể dung nạp sự xuất sắc của tha nhân. Người mang lòng đố kỵ luôn tưởng rằng hạ bệ người khác thì mình sẽ cao hơn, nhưng họ quên mất rằng ánh sáng của ngọn nến này không bao giờ làm ngọn nến bên cạnh tàn lụi; trái lại, càng nhiều ngọn nến cùng cháy thì bóng tối mới càng mau tan.

Học cách tán dương người hiền, hoan hỷ trước thành công của người khác và dung nạp sự khác biệt – đó không chỉ là sự tu dưỡng cao thượng của bậc quân tử, mà còn là phương thức duy nhất để giữ cho tâm hồn mình được khoáng đạt, an nhiên đi trọn cuộc đời.

Theo The Epoch Times
Bình Nhi biên dịch

Đọc tiếp