Trường sinh không khó: Tây Vương Mẫu đã chỉ rõ những thiên cơ nào cho Hán Vũ Đế?

Trường sinh không khó: Tây Vương Mẫu đã chỉ rõ những thiên cơ nào cho Hán Vũ Đế?
Tây Vương Mẫu đã để lại cho Lưu Triệt cuốn chân kinh tu đạo mà ngay cả thần tiên cũng không thể tùy tiện truyền dạy. (Ảnh: Public Doamain)

Hán Hiếu Vũ Hoàng đế Lưu Triệt là con trai của Hán Cảnh Đế Lưu Khải. Khi mẹ mang thai ông, xuất hiện điềm lành cát tường, Cảnh Đế bèn đặt tên cho ông là Lưu Cát. Từ thuở nhỏ, Lưu Cát đã đọc sách một lần là không quên, tư chất thông tuệ đĩnh ngộ; Cảnh Đế thấy con thông minh quán triệt vạn sự, bèn đổi tên thành Lưu Triệt.

Những năm đầu mới đăng cơ, Lưu Triệt không màng phú quý cõi trần, chẳng mượn oai danh thiên tử, thường tìm đến ngũ nhạc danh sơn trai giới cầu đạo, lập chí đắc đạo thành tiên. Thấy ông có căn cơ khả dĩ dạy bảo, tiếng lòng lại thấu tận thiên đình, Tây Vương Mẫu thương xót một đấng quân vương mà biết chí thành cầu đạo, bèn cùng Thượng Nguyên phu nhân hạ phàm truyền dạy phép tu chân.

Thượng Nguyên phu nhân răn dạy Vũ Đế:

“Trong tâm tính nhà vua còn năm món dục vọng độc hại: tính khí nóng nảy thô bạo, đắm say nữ sắc, xa hoa hoang phí, đãi người cay nghiệt và ích kỷ trút giận lên kẻ khác. Năm thói xấu này ngày ngày tựa như dao cưa róc thịt, đục khoét thân thể, bào mòn sinh mệnh của bệ hạ. Dẫu có chí cầu trường sinh, nhưng nếu không trừ tận gốc những căn bệnh trầm kha ấy, dù khổ công tu luyện đến mấy cũng chỉ hoài công vô ích.

Bệ hạ nếu có thể giữ lòng từ thiện xót thương lê dân, biết người khéo dùng, siêng năng chính sự, cứu tế bần hàn, tích lũy âm đức sâu dày, việc đắc đạo thành tiên mới mong có ngày thành tựu.”

Bà lại dạy tiếp: “Tây Vương Mẫu lấy địa vị Thiên tôn chí tôn tôn quý, chẳng nề hà chốn nhân gian hôi hám đục ngầu mà hạ lâm tới chốn hang ổ sâu bọ ẩm thấp này của bệ hạ, đem chân kinh bí truyền của bậc thần tiên trao tặng. Nếu bệ hạ biết cẩn trọng cung phụng bí quyết tu đạo ấy, cần mẫn thực hành, ngày công viên quả mãn, Tây Vương Mẫu ắt sẽ đón người lên tiên giới, phong ban tiên chức.

Tin lời ta thì phải tự khuyên răn mình tu đạo chớ trễ nải; nhược bằng không làm được, ta cũng chẳng còn lời nào để nói thêm.”

Giờ phút chia tay, Tây Vương Mẫu ân cần dặn dò Lưu Triệt: “Cõi tiên có một đạo lý ai ai cũng rõ: Cầu trường sinh không khó, khó ở chỗ đắc được chân pháp chân đạo; đắc được chân pháp chân đạo cũng chưa phải khó, khó là ở chỗ nghiêm cẩn theo đúng quy củ của đại pháp đại đạo mà tu hành; tu hành bản thân nó cũng chưa phải khó nhất, cái khó nhất xưa nay chính là tu luyện như thuở ban đầu, một lòng một dạ đi đến cùng!

Dẫu là bậc danh sư tuyệt đỉnh cũng chỉ có thể trao truyền quy củ và phương pháp, chứ chẳng thể bảo đảm đệ tử nhất định sẽ thành tài. Bệ hạ phải tự mình gắng gỏi!”

Thượng Nguyên phu nhân tiếp lời: “Nếu đã thực sự lập chí vì đạo, dẫu có phải ném mình vào miệng cọp đói cũng chẳng màng thân thể nát tan hay mất mạng; dẫu xông pha vào dầu sôi lửa bỏng cũng chẳng chút run sợ sờn lòng, trước sau không đổi chí hướng. Được như thế, cần gì phải bận tâm việc có tu thành hay không?”

Sau cuộc hội kiến Tây Vương Mẫu và Thượng Nguyên phu nhân, Hán Vũ Đế cất giữ kinh sách vào tráp báu, ngày ngày thắp hương lễ bái, y theo lời chỉ dạy trong kinh văn mà chuyên tâm tu luyện. Cứ như thế trôi qua sáu năm, ông cảm nhận tâm lượng và nhãn giới của mình ngày một khoáng đạt phi phàm, khí chất thanh tao nhã nhặn. Ông đinh ninh rằng mình có được duyên lành diện kiến hai vị đại tiên giáng trần chỉ điểm, ắt ngày sau sẽ đắc đạo thành bậc thượng tiên lẫy lừng.

Ngặt nỗi về sau, Vũ Đế dần lơ là lời răn dạy năm xưa. Ông lại sa đà vào tửu sắc, đao binh chẳng dứt: cất quân thảo phạt Liêu Đông, đánh chiếm Triều Tiên, viễn chinh Thiền Vu, dốc cạn quốc khố xây cung dựng điện, chôn sống hàng binh, đối đãi hà khắc với muôn dân khiến oán khí ngút trời.

Từ đó, ông càng bước càng xa rời chính đạo. Vũ Đế nhiều lần lập đàn tế bái tha thiết, nhưng Tây Vương Mẫu không bao giờ giáng lâm nữa. Tòa cung điện lưu giữ mười bốn cuốn tiên kinh do Vương Mẫu ban tặng cũng bất ngờ phát hỏa, toàn bộ sách báu hóa thành tro tàn.

Cổ thư từng ghi chép về các tầng bậc tu tiên:

  • Thiên tiên: Hàng thượng tiên đắc đạo viên mãn, có thể giữa ban ngày bay thẳng lên trời (bạch nhật phi thăng).
  • Địa tiên: Hàng trung tiên, tự do tự tại tiêu dao ngao du khắp danh sơn đại xuyên.
  • Quỷ tiên: Hàng hạ đẳng tu tiên, phải chết đi rồi trải qua thời gian dài thi giải (thi giải tiên) mới được xóa tên nơi sổ sinh tử dưới địa phủ.

Kinh sách lại dạy rằng, tu thành Quỷ tiên dẫu mang danh là “tiên”, thực chất vẫn chỉ là một loài “quỷ”. Người tu Phật, tu Đạo từ xưa đến nay, khổ tu cả một đời rốt cuộc chỉ thành Quỷ tiên; chẳng thể đặt chân tới thiên giới hay cõi Phật, dẫu thoát khỏi vòng luân hồi nhưng vẫn vướng kẹt nơi trần thế, nghĩ đến thật đáng bật cười chua xót.

Hán Vũ Đế từng may mắn đắc được chân kinh do Tây Vương Mẫu và Thượng Nguyên phu nhân thân truyền, nếu giữ trọn tâm kiên trì ban đầu vốn dĩ có thể đắc vị Thượng tiên; tiếc thay vì biếng nhác, buông thả dục vọng mà trượt dài xuống hàng Quỷ tiên, rốt cuộc lỡ dở cả đại đạo.

Thật đáng tiếc, và cũng thật đáng thương thay!

(Theo Thái Bình Quảng Ký – Thần Tiên quyển 3)

Theo
Secretchina
Gia Nghi biên dịch

Đọc tiếp