Quân tử kết giao: Nhạt như nước hay không cần đến nước?
Từ xưa đến nay, kẻ đến với nhau vì danh lợi thì khi bần hàn, hoạn nạn tất sẽ lìa bỏ nhau, thậm chí vì chút lợi mọn mà sẵn sàng hãm hại nhau. Người quân tử trái lại lấy thiên tính chân thành và đạo nghĩa làm gốc. Khi đối phương gặp nguy nan, họ chẳng quản thân mình ra tay cứu giúp; hoạn nạn qua đi, họ cũng xem đó là phận sự hiển nhiên, tuyệt nhiên không nhắc công hay mưu cầu báo đáp.
Cổ nhân từng dạy: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ; quân tử đạm dĩ thân, tiểu nhân cam dĩ tuyệt.” (Tình giao hảo của người quân tử đạm bạc, trong trẻo như nước lã; tình qua lại của kẻ tiểu nhân ngọt nồng, vồ vập như rượu ngọt. Bậc quân tử tuy đạm bạc mà càng gắn bó dài lâu; kẻ tiểu nhân dẫu vồn vã mà rốt cuộc lại dễ tuyệt giao).
Nhưng nếu nhìn sâu vào tấm lòng của người xưa, đôi khi sự kết giao ấy còn đạt đến một cảnh giới cao hơn: chẳng những “nhạt như nước”, mà ngay cả một giọt nước tượng trưng cho sự thù tạc, khách sáo đời thường cũng hoàn toàn không cần đến.
Không tránh kẻ thù, không vì tình riêng
Nhắc đến tiết tháo của người quân tử thời cổ đại, không thể không nhắc tới Kỳ Hề – vị nguyên lão bốn triều đại của nước Tấn thời Xuân Thu (từng phò tá Cảnh Công, Lệ Công, Điệu Công và Bình Công).
Bấy giờ Kỳ Hề giữ chức Trung quân úy. Nước Tấn thực thi chế độ quân - chính hợp nhất: tướng soái cầm quân nơi chiến trận, vào triều lại là trọng thần bàn việc cơ mật. Dẫu chức vị chưa phải là bậc Thượng khanh tột đỉnh, nhưng nhân cách và uy vọng của Kỳ Hề lại bao trùm cả triều đình.
Dưới thời Tấn Bình Công, vùng Nam Dương khuyết chức Huyện lệnh. Bình Công hỏi Kỳ Hề ai là người thích hợp gánh vác việc này.
Kỳ Hề đáp: “Giải Hồ có thể đảm đương.”
Tấn Bình Công ngạc nhiên: “Giải Hồ chẳng phải là kẻ thù có hiềm khích sâu nặng với khanh sao? Cớ gì khanh lại tiến cử ông ta?”
Kỳ Hề thản nhiên thưa: “Chúa công hỏi ai là người xứng đáng với chức vị, chứ đâu có hỏi ai là kẻ thù của thần.”
Tấn Bình Công nghe xong, khen ngợi và lập tức hạ chiếu bổ nhiệm Giải Hồ. Giải Hồ tới Nam Dương nhậm chức, cai trị quang minh chính đại, muôn dân khắp vùng đều ca tụng đức độ và tài năng của vị quan mới.
Ít lâu sau, triều đình lại khuyết chức Quân úy. Bình Công hỏi Kỳ Hề người hiền kế nhiệm.
Kỳ Hề tiến cử: “Kỳ Ngọ.”
Bình Công lại kinh ngạc: “Kỳ Ngọ chẳng phải là con trai của khanh sao?”
Kỳ Hề điềm tĩnh đáp: “Chúa công hỏi ai có đủ tài năng đảm đương trọng trách, chứ đâu có hỏi ai là con trai của thần.”
Bình Công y lời. Kỳ Ngọ nhậm chức, quả nhiên tận tụy và tài ba không kém tiền nhân.
Điển cố “Tiến cử ngoài không tránh kẻ thù, tiến cử trong không kiêng người thân” của Kỳ Hề từ đó lưu danh thiên cổ, trở thành biểu tượng mẫu mực cho sự chí công vô tư của bậc quân tử. Khi đã tuổi cao sức yếu, Kỳ Hề xin cáo lão từ quan, lui về điền trang an dưỡng tuổi già.
Cứu người quân tử giữa chốn nguy nan
Sau khi Kỳ Hề về hưu, nước Tấn bùng nổ xung đột phe phái giữa các gia tộc quyền quý, dẫn đến một cuộc thanh trừng đẫm máu. Gia tộc Dương Thiệt bị cuốn vào vòng xoáy ấy. Đại phu Thúc Hướng – một bậc hiền thần danh tiếng lẫy lừng của nước Tấn – vốn hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh đoạt, nhưng do có em trai can dự vào sự việc nên cũng bị liên lụy. Ông mất quyền tự do, bị quản thúc nghiêm ngặt trong dinh thự chờ ngày luận tội.
Thúc Hướng vốn là người đức hạnh, bị hàm oan nên rất nhiều người thương tiếc và lo lắng. Trong số đó có Lạc Vương Phủ, một cận thần đang rất được Tấn Bình Công sủng ái. Lạc Vương Phủ đích thân đến gặp Thúc Hướng, chủ động ngỏ ý muốn nói giúp với quốc quân để ông được miễn tội.
Trước thiện ý ấy, Thúc Hướng tuyệt nhiên không hưởng ứng. Ông không nhận lời, không nhờ vả, cũng chẳng mở lời tạ ơn, thái độ bình thản tựa như không có chuyện gì xảy ra.
Nhiều người chứng kiến đều chê trách Thúc Hướng kiêu ngạo, không biết điều. Nhưng Thúc Hướng chỉ nói với gia nhân: Trên đời này duy chỉ có một người cứu được ta, đó là Kỳ Hề, và ông ấy nhất định sẽ không khoanh tay đứng nhìn.
Lời của Thúc Hướng quả nhiên chuẩn xác. Nơi thôn dã, vừa hay tin Thúc Hướng gặp nạn, Kỳ Hề lập tức bảo người nhà: “Ta từng nghe nói: Thấy kẻ tiểu nhân đắc thế mà không can gián bậc bề trên, ấy là điều bất thiện; thấy bậc quân tử rơi vào hoạn nạn mà không ra tay cứu giúp, ấy cũng là điều bất thiện.”
Kỳ Hề không chậm trễ một khắc, lập tức lên cỗ xe nhanh nhất lao về kinh đô, tìm gặp Chính khanh Phạm Tuyên Tử – người đang nắm toàn quyền xử lý đại án. Ông hiểu rằng nếu chần chừ, tính mạng của bậc hiền tài nước nhà sẽ không giữ nổi.
Đối diện Phạm Tuyên Tử, Kỳ Hề dẫn giải kinh sử, phân tích lý lẽ thấu triệt: Vua Thuấn thời xưa xử trừng phạt Cổn vì trị thủy thất bại, nhưng con trai Cổn là Đại Vũ về sau vẫn được ủy thác trọng trách và lập nên công trạng mở nước; đời nhà Chu, Quản Thúc và Sái Thúc mưu phản bị trị tội, nhưng con cháu họ có đức tài vẫn được triều đình trọng dụng. Nay gia tộc có kẻ làm sai, cớ sao lại bức hại một bậc trung lương vô tội như Thúc Hướng?
Phạm Tuyên Tử bị thuyết phục hoàn toàn. Chưa dừng lại ở đó, hai người cùng vào cung yết kiến Tấn Bình Công, lấy đại cục xã tắc làm trọng mà can gián. Nhờ vậy, Thúc Hướng được giải trừ mọi hiềm nghi và khôi phục lại tự do.
Tri kỷ không lời: Đỉnh cao của đạo kết giao
Căn nguyên nào khiến Thúc Hướng vững tin Kỳ Hề sẽ cứu mình? Thúc Hướng từng giải thích: “Kỳ Hề đại phu bên ngoài không bỏ sót người có thù, bên trong không né tránh con ruột, lòng dạ chí công vô tư nhường ấy, lẽ nào lại cam tâm để một người vô tội như ta phải chết oan?”
Và vì sao Thúc Hướng biết Kỳ Hề đủ sức xoay chuyển càn khôn? Bởi theo lời Kinh Thi: “Đức âm khổng chiêu, thị huệ tư tư” (Đức hạnh sáng ngời ắt khiến bốn phương quy phục). Người mang đại đức chí công thì lời nói ra ắt lay động được lòng người.
Thế nhưng, phần đáng suy ngẫm nhất của thiên cổ sự này nằm ở hồi kết: Sau khi giải cứu Thúc Hướng thành công, Kỳ Hề lặng lẽ lên xe trở về điền trang. Ông không ghé qua phủ Thúc Hướng để thăm hỏi, càng không nuôi ý chờ đón một lời cảm tạ hay kết tình đồng minh bè phái.
Về phần Thúc Hướng, vừa bước ra khỏi cảnh giam cầm, ông cũng chỉ chỉnh đốn y phục rồi thẳng tiến vào cung yết kiến Tấn Bình Công để tiếp tục làm tròn phận sự của bề tôi. Ông không tìm đến nhà Kỳ Hề để quỳ lạy dập đầu tạ ơn cứu mạng.
Người cứu không mảy may nghĩ mình có ơn, người được cứu cũng chẳng bận lòng chuyện báo đáp. Giữa hai bậc hiền giả không một lời dặn dò, không một bức thư tri ân, thậm chí chẳng có một cuộc gặp mặt riêng tư.
Họ hiểu nhau qua đạo nghĩa và hành xử trọn vẹn theo lý tưởng của bậc quân tử. Mối quan hệ ấy đã vượt qua cả sự thanh đạm "nhạt như nước" – bởi ngay cả một chén nước lễ nghi tao ngộ họ cũng không cần bày biện.
Tấc lòng thanh sạch, sự thông tỏ đạo nghĩa và khí phách của cổ nhân, ngẫm lại, thật phóng khoáng và cao khiết khôn cùng!
Theo The Epoch Times
Bình Nhi biên dịch