Mọi cuộc gặp gỡ trong đời đều là một sự tu hành
Pháp sư Hoằng Nhất từng nói: “Trong đời không có gì là không thể buông bỏ. Chấp trước vào một niệm, sẽ bị một niệm trói buộc; buông xuống một niệm, tâm liền được tự tại.”
Đi giữa nhân gian, chúng ta gặp gỡ đủ mọi hạng người. Ta thường day dứt mãi không quên những vết thương cũ, tự giam mình trong oán hận và trách móc để rồi tâm can ngày càng hao mòn, chán nản. Thế nhưng, cuộc đời vốn dĩ là một tiến trình tu hành qua từng lần hội ngộ và chia ly. Không nợ nhau, làm sao có thể tương phùng? Người tốt là cảnh đẹp trên đường đời nâng bước ta đi, người xấu là nghịch cảnh ắt phải trải qua để rèn luyện tâm tính. Người khác đối xử với bạn thế nào là thử thách của số phận; còn bạn đối đãi với người ra sao mới là thước đo đức hạnh và tầm vóc của chính mình.
1. Người đối tốt với bạn là quý nhân soi đường
Có câu nói rằng: “Người không chung máu mủ mà vẫn hết lòng đối đãi tốt với bạn, chính là món quà quý giá nhất trời ban.” Trải qua bao thăng trầm chìm nổi, người ta mới thấu hiểu một chân tình không cùng huyết thống nhưng trước sau không rời bỏ đáng trân quý đến nhường nào.
Thời Bắc Tống, chàng trai trẻ Tô Thức vào kinh ứng thí. Văn chương của ông phóng khoáng, sắc sảo nhưng thuở đầu chưa mấy ai thấu tỏ. Quan chủ khảo khi ấy là Âu Dương Tu sau khi chấm bài của ông thì vô cùng kinh ngạc trước khí văn thông suốt, kiến giải phi phàm. Ban đầu, vì ngỡ đây là bài thi của người học trò ruột Tăng Củng, để tránh điều tiếng thiên vị, Âu Dương Tu đã chủ động xếp bài xuống vị trí thứ hai. Mãi đến khi mở niêm phong danh tính, ông mới biết tác giả là Tô Thức quê đất Mi Sơn.
Vốn là bậc yêu tài như mạng, Âu Dương Tu không hề giấu giếm sự thán phục mà thẳng thắn cảm thán trước các đồng liêu: “Lão phu này nên nhường đường, để hậu bối có một chỗ đứng cao hơn.” Đang ở đỉnh cao văn đàn, Âu Dương Tu vẫn nhiều lần dâng biểu tiến cử Tô Thức trước triều đình, lại thường xuyên gửi thư riêng ân cần chỉ bảo: “Văn chương nên hướng đến sự bình dị, cổ kính, chớ mải miết đuổi theo sự phù hoa.” Dưới sự nâng đỡ tận tâm ấy, Tô Thức dần khẳng định vị thế. Nhiều năm sau, khi Tô Thức vướng vào “Vụ án thơ Ô Đài” rồi rơi vào cảnh ngục tù tăm tối, Âu Dương Tu tuy đã khuất núi nhưng những trước tác và lời răn dạy ông để lại vẫn là điểm tựa tinh thần vững vàng nhất giúp Tô Thức vượt qua biến cố. Về già, Tô Thức luôn bùi ngùi nhắc nhở học trò: “Nếu không có Âu Dương công, ta chẳng qua cũng chỉ là một kẻ cuồng sinh nơi đất Thục.”
Gặp được một bậc tiền bối hết lòng dìu dắt khi không cùng máu mủ là ân phước lớn lao của đời người. Tình bạn cảm động giữa Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích thời Đường cũng là một minh chứng bất hủ cho tấm lòng quý nhân tri kỷ.
Sau biến cố chính trị “Nhị Vương Bát Tư Mã”, Liễu Tông Nguyên bị đày đến Vĩnh Châu, còn Lưu Vũ Tích bị giáng chức tới Lãng Châu. Mười năm dài đằng đẵng tha hương, vừa được ân xá về kinh chưa lâu thì vì đụng chạm giới quyền quý, họ lại tiếp tục nhận lệnh lưu đày. Lần này, Liễu Tông Nguyên bị chuyển tới Liễu Châu xa xôi, còn Lưu Vũ Tích bị điều đến Bá Châu — vùng đất cằn cỗi và hiểm trở bậc nhất. Khi ấy, mẹ già của Lưu Vũ Tích đã ngoài tám mươi, khó lòng chịu nổi dặm trường gian ải. Thấu hiểu hoàn cảnh bạn, Liễu Tông Nguyên lập tức dâng tấu khẩn cầu xin đổi nơi lưu đày với Lưu Vũ Tích, lời lẽ thiết tha đẫm lệ. Cảm động trước tấm lòng son sắt ấy, triều đình chuyển Lưu Vũ Tích về Liên Châu đỡ khắc nghiệt hơn, nhờ đó mẹ ông giữ được tính mạng.
Không lâu sau, Liễu Tông Nguyên qua đời nơi đất khách vì lao lực và bệnh tật. Trước lúc lâm chung, ông gửi gắm toàn bộ bản thảo trọn đời và những đứa con thơ cho tri kỷ. Không phụ lời phó thác, Lưu Vũ Tích đã dốc lòng thu thập, chỉnh lý văn tập của Liễu Tông Nguyên lưu truyền cho hậu thế, đồng thời tận tụy nuôi dạy các con bạn khôn lớn nên người.
Giữa biển người mênh mông, người thực lòng sẵn sàng dốc tâm dốc sức vì ta vốn không nhiều. Kẻ không tâng bốc khi ta đắc ý, người không rời bỏ khi ta thất thế, người dang tay kéo ta lên lúc ngả nghiêng hoang mang, người thấu suốt nỗi cơ hàn và sẵn lòng đỡ đần gánh nặng — đó chính là những quý nhân đáng trân trọng cả một đời.
Hơi ấm từ những ân tình bình dị ấy có thể không rực rỡ chói lòa, nhưng đủ để xua tan giá lạnh, tiếp thêm cho ta sự vững vàng trên đường đời vạn dặm. Đúng như người xưa đã đúc kết: “Ngàn vàng dễ kiếm, tri kỷ khó tìm.” Nhớ ơn sâu và biết đáp đền nghĩa nặng mới khiến lòng tốt được tiếp nối, và ta mới có thể tiếp tục được cuộc đời đối đãi dịu dàng.
2. Người làm tổn thương bạn là đòn bẩy giúp bạn trưởng thành
Cổ nhân dạy: “Bảo kiếm phong tùng ma lệ xuất, mai hoa hương tự khổ hàn lai” (Gươm báu sắc bén nhờ mài giũa, hoa mai ngát hương bởi vượt qua giá rét). Thuở trẻ, ta thường oán trách những vết thương lòng là sự bất công của số phận. Thế nhưng đi qua nửa đời người mới ngộ ra rằng: nghịch cảnh chính là con đường tôi luyện bản lĩnh nhanh nhất.
Trịnh Bản Kiều — danh họa, nhà thư pháp kiệt xuất thời nhà Thanh — xuất thân bần hàn và từng lận đận suốt nhiều năm trên con đường khoa cử.
Năm ba mươi tuổi, ông lên kinh ứng thí. Dù tài năng bộc lộ rực rỡ nhưng vì tính tình cương trực, không thấu chuyện luồn cúi chốn quan trường, ông bị các sĩ tử cùng khoa ganh ghét, đặt điều bôi nhọ nhân phẩm dẫn đến thi trượt. Trở về quê nhà, ông phải đón nhận vô vàn lời dè bỉu, chế giễu cay nghiệt. Người quen kẻ lạ đồng loạt xa lánh, cho rằng ông là kẻ gàn dở, bất tài. Ngay cả người cha cũng vì uất ức mà ngã bệnh, mắng nhiếc ông uổng phí mười năm đèn sách, làm ô danh dòng họ.
Rơi vào bước đường cùng, Trịnh Bản Kiều phải mưu sinh bằng nghề bán tranh. Trớ trêu thay, phong cách khoáng đạt, ngạo nghễ của ông đi ngược lại hoàn toàn với lối vẽ tỉ mỉ, ước lệ đang thịnh hành thời bấy giờ nên chẳng ai thèm ngó ngàng. Có phú thương ép giá mua rẻ, khi ông từ chối thì thẳng thừng miệt thị: “Thứ tranh hoang dại này chỉ đáng dùng dán vách.” Thay vì buông xuôi gục ngã, Trịnh Bản Kiều biến mọi cay đắng thành động lực. Ông khép cửa từ chối tiếp khách, ngày đêm dùi mài bút mực. Tất cả uất nghẹn và khí khái kiên cường đều hóa thành những cành trúc, khóm lan, phiến đá kiêu hãnh dưới ngòi bút.
Năm bốn mươi tuổi, ông thi đỗ tiến sĩ, sau được bổ nhiệm làm Huyện lệnh huyện Duy. Suốt thời gian tại vị, ông là vị quan thanh liêm, yêu dân như con. Nghệ thuật thư họa của ông cũng đạt đến độ chín muồi, sáng lập nên trường phái “Bản Kiều thể” lừng danh thiên hạ cùng bài thơ đề trúc bất hủ: “Thiên ma vạn kích hoàn kiên kình, Nhậm nhĩ đông tây nam bắc phong” (Trải ngàn mài giũa ngàn va đập, Vẫn vững ngạo nghễ gió bốn phương).
Vết thương năm xưa từng muốn dìm ông xuống bùn đen sau cùng lại hóa thành bậc thang nâng đỡ ông lên đỉnh cao danh vọng. Khí chất của một người chỉ thực sự phát lộ rực rỡ nhất khi đã tôi luyện qua giông bão.
Nhà văn Trương Hiểu Phong từng viết: “Sống trên đời, một trái tim phải trải qua trầy xước, bỏng rát, giá lạnh, va đập, chèn ép, thậm chí tổn thương sâu sắc bên trong, làm sao có thể giữ mình vẹn nguyên không một vết xước?”
Người bôi nhọ rèn cho ta lòng bao dung. Kẻ ức hiếp dạy ta đức tự cường. Người rời bỏ nhắc ta học cách buông xả. Kẻ phản bội giúp ta nhìn thấu nhân tình thế thái. Nghịch cảnh mang đến không phải là sự hủy diệt, mà là cơ hội lột xác để tái sinh. Mạnh mẽ thực sự không phải là chưa từng chịu tổn thương, mà là sau muôn vàn vết cắt vẫn có thể ngẩng cao đầu bước tiếp; tỉnh thức thực sự không phải là ảo tưởng ai cũng là người tốt, mà là dù nhìn thấy mặt tối của lòng người, ta vẫn giữ trọn sự thiện lương và nguyên tắc của riêng mình.
3. Đừng tìm cầu bên ngoài, tu hành là quay về soi xét nội tâm
Đi qua bão giông cuộc đời, điều quan trọng nhất cần thấu hiểu là: thị phi bên ngoài là của người khác, sự tu dưỡng bên trong mới thuộc về chính mình. Thái Căn Đàm có câu: “Năm tháng vốn dài, người bận rộn tự làm nó ngắn lại; trời đất vốn rộng, người hẹp hòi tự khiến lòng mình chật chội.” Lời khen chê của thế gian như bụi cuốn theo gió, tụ tán khó lường; chỉ có sự an định trong tâm hồn mới là gốc rễ lập thân xử thế vững bền.
Pháp sư Hoằng Nhất (Lý Thúc Đồng) sinh trưởng trong hào môn vọng tộc, thời trẻ vang danh thiên hạ. Sau khi du học trở về, ông là bậc thầy nghệ thuật tinh thông từ thi ca, thư họa, khắc ấn đến âm nhạc và kịch nghệ. Thế nhưng, giữa lúc danh vọng đỉnh cao, bài hát “Tống biệt” của ông đang ngân vang khắp phố phường, ông bất ngờ buông bỏ tất cả trần duyên để quy y cửa Phật tại chùa Hổ Bào (Hàng Châu). Từ bỏ nhung lụa, ông chọn cuộc đời khổ hạnh: ngày một bữa cơm thanh đạm, một manh chiếu cói, một chiếc giường con và một ngọn đèn dầu.
Quyết định của ông làm dấy lên làn sóng kinh ngạc cùng vô vàn búa rìu dư luận. Người chỉ trích ông trốn tránh trách nhiệm với gia đình, kẻ mỉa mai ông giả tạo để mưu cầu danh tiếng thanh cao. Bạn bè thuở xưa thậm chí viết bài châm biếm: “Xưa là tài tử phong lưu, nay thành lão tăng khô héo, chẳng qua chỉ mượn áo cà sa để lòe đời.” Thậm chí có kẻ còn kéo đến tận cửa chùa buông lời cay nghiệt. Vị tiểu sa di thấy vậy bất bình thưa: “Thưa thầy, họ hoàn toàn không hiểu tấm lòng của thầy, cớ sao thầy phải nhẫn nhịn chịu đựng?”
Pháp sư Hoằng Nhất chỉ bình thản lau từng cuốn kinh thư, khẽ bảo: “Làm sao để dập tắt gièm pha? Đáp rằng: Không phân bua. Làm sao để hóa giải oán hận? Đáp rằng: Không tranh giành.”
Ông lặng lẽ sống những tháng ngày thanh tịnh: bốn giờ sáng thức giấc tụng kinh, đêm khuya ngồi chép kinh dưới bóng đèn leo lét. Từng nét chữ nhỏ như đầu ruồi ngay ngắn, thanh thoát chứa đựng toàn bộ sự an tĩnh tuyệt đối. Y phục chắp vá nhiều mảnh, người ta tặng áo cà sa gấm lụa ông đều khéo léo từ chối. Trọn đời trì giới nghiêm cẩn nhưng ông đối đãi với nhân gian dịu dàng như nước; ngay cả những người từng bôi nhọ, khi đến tìm ông vẫn được đón nhận bằng nụ cười từ ái và lời khai thị tận tình. Ông dùng cả cuộc đời minh chứng rằng: khen chê, vinh nhục cõi trần rốt cuộc cũng chỉ như mây khói thoảng qua, sự kiên định nơi nội tâm mới giúp ta an nhiên đứng vững giữa cuộc đời.
Bạn không thể ngăn miệng lưỡi thế gian, nhưng có quyền chọn không để mình bị cuốn vào vòng xoáy thị phi. Bạn khó lòng xoay chuyển biến thiên thời cuộc, nhưng hoàn toàn có thể giữ cho tâm mình bất biến giữa dòng đời vạn biến.
Tu hành sau tuổi trung niên chính là học cách thu ánh nhìn mải mê hướng ngoại trở về soi chiếu nội tâm; chuyển kỳ vọng đối với người khác thành yêu cầu hoàn thiện chính mình. Mạnh mẽ thực sự không phải là chinh phục thế giới bên ngoài, mà là làm chủ tâm trí; tu dưỡng tốt nhất không phải là cố sống theo kỳ vọng của người đời, mà là sống thênh thang, ngay thẳng với bản tâm.
Họa sĩ Phong Tử Khải từng viết: “Nếu bạn mở lòng yêu thương, nơi nào trong cuộc sống cũng tràn đầy đáng yêu; nếu bạn mang lòng oán hận, đâu đâu cũng thấy điều đáng giận. Nếu biết tri ân, vạn vật đều đáng để tạ ơn; nếu muốn trưởng thành, việc gì cũng là bài học tôi luyện. Không phải thế giới lựa chọn bạn, mà là bạn tự lựa chọn cách nhìn thế giới này. Đã không có nơi nào để trốn chạy, chi bằng cứ an nhiên mà vui sống; đã không có nơi nào là cõi tịnh độ tuyệt đối, chi bằng hãy tự thanh lọc tâm mình; đã có những điều bất như ý, chi bằng học cách thản nhiên buông bỏ.”
Theo Secretchina
Bình Nhi biên dịch