Gần vua như gần hổ: Chuyện gián thần Ngụy Trưng và bậc minh quân Đường Thái Tông

Gần vua như gần hổ: Chuyện gián thần Ngụy Trưng và bậc minh quân Đường Thái Tông
Phục vụ vua chúa cũng giống như phục vụ hổ; phục vụ Hoàng đế Thái Tông nhà Đường cũng không phải ngoại lệ. (Ảnh ghép minh hoạ)

Người xưa thường nói: "Ở bên vua như ở gần hổ." Chỉ cần một chút sơ suất chạm vào "vảy ngược của rồng", phạm phải "râu hổ", khiến thiên tử nổi giận thì mất mạng như chơi. Vì thế, suốt chiều dài lịch sử, phần lớn quan lại đều chọn cách thuận theo ý vua để cầu an giữ mình. Trong triều đình, chức Gián nghị đại phu là vị trí nguy hiểm bậc nhất, bởi chức trách của họ là vạch ra sai lầm của hoàng đế, đưa ra kiến nghị sửa đổi – mà những lời khuyên chân thành thì luôn chói tai, nghịch nhĩ.

Tuy nhiên, triều đại nhà Đường lại xuất hiện một cặp quân – thần kinh điển trong lịch sử phong kiến: Một bên là vị hoàng đế bao dung rộng lượng Đường Thái Tông Lý Thế Dân, và một bên là vị trung thần can gián bộc trực nhất thời đại – Ngụy Trưng.

Bậc trung thần không sợ uy quyền

Ngụy Trưng là danh thần nổi tiếng cương trực. Ban đầu, khi làm quan dưới trướng Đường Cao Tổ Lý Uyên, hễ thấy hoàng đế có điều gì sai sót, ông đều thẳng thắn can ngăn. Dù nhiều lần bị chạm tự ái, Cao Tổ ngoài mặt bực bội nhưng trong lòng lại có phần kính nể và e dè trước khí phách của ông.

Về sau, Lý Uyên điều Ngụy Trưng sang Đông Cung, bổ nhiệm làm Thái tử Tẩy mã (chức quan phụ tá, giáo dưỡng văn lễ cho Thái tử Lý Kiến Thành). Thấy Tần Vương Lý Thế Dân lập chiến công hiển hách, thế lực ngày càng lấn át Đông Cung, Ngụy Trưng đã nhiều lần mật khuyên Lý Kiến Thành sớm ra tay trừ bỏ Lý Thế Dân để trừ hậu họa.

Sau biến cố Huyền Vũ Môn, Lý Thế Dân thanh trừng phe cánh của Lý Kiến Thành và lập tức triệu Ngụy Trưng đến chất vấn: "Vì sao ngươi năm xưa lại mưu hại trẫm, chia rẽ tình huynh đệ cốt nhục?"

Đứng trước lằn ranh sinh tử, Ngụy Trưng bình thản đáp: "Đáng tiếc là khi ấy Thái tử không nghe lời thần. Nếu nghe theo, sự tình đã không đi đến cục diện bi thảm như ngày hôm nay."

Nhận thấy Ngụy Trưng là người bộc trực, trung thành với bổn phận và có tầm nhìn xuất chúng, Lý Thế Dân không những không trách tội mà còn lập tức trọng dụng. Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông cất nhắc ông làm Gián nghị đại phu, đồng thời dặn dò: "Sau này trẫm có điều gì lầm lỗi, khanh cứ việc thẳng thắn can gián, tuyệt đối không cần kiêng dè."

Dám chạm "vảy rồng" để giữ vững kỷ cương

Theo Tư Trị Thông Giám, Ngụy Trưng tuy dung mạo bình dị nhưng khí phách phi phàm. Ngay cả khi Đường Thái Tông đang nổi cơn lôi đình, ông vẫn giữ nguyên sắc mặt, kiên quyết can ngăn đến cùng, khiến uy nghiêm của thiên tử cũng phải nhượng bộ trước lẽ phải.

Trinh Quán Chính Yếu ghi chép: Năm Trinh Quán thứ 2 (628), Thái Tông hỏi: "Thế nào là minh quân, thế nào là hôn quân?"

Ngụy Trưng khẳng khái đáp: "Kiêm thính tắc minh, thiên tín tắc ám" (Lắng nghe từ nhiều phía thì sáng suốt; chỉ tin lời một phía thì u tối). Nếu đấng quân vương biết mở rộng tai mắt đón nhận lời can gián từ quần thần, kẻ lộng thần sẽ không thể bưng bít sự thật, và tình cảnh của muôn dân ắt được truyền đạt trọn vẹn lên triều đình.

Sự gắn kết giữa hai người sâu sắc đến mức năm Trinh Quán thứ 7 (633), khi triều đình thiếu người đi kinh lý khắp các đạo để khảo sát quan lại và cứu tế dân nghèo, có người tiến cử Ngụy Trưng, Thái Tông liền gạt đi: "Ngụy Trưng ở bên cạnh luôn chỉ ra những sơ suất của trẫm, ta không thể để ông ấy rời xa dù chỉ một ngày."

Những áng văn can gián để đời

Sinh thời, ngoài việc trực tiếp tranh luận trước triều đình, Ngụy Trưng đã dâng hơn hai trăm bản tấu sớ với hàng trăm nghìn chữ. Nổi bật nhất là hai tuyệt tác trị quốc: Thập Tư Sớ (Mười điều suy ngẫm) và Thập Tiệm Sớ (Mười điều dần thoái hóa).

"Thập Tư Sớ" khuyên bậc đế vương phải luôn "lo trước cái lo của thiên hạ", phòng ngừa tai họa từ khi chưa manh nha:

  1. Thấy điều ham muốn thì nghĩ đến sự biết đủ.
  2. Định khởi công xây cất thì nghĩ đến việc dừng đúng lúc.
  3. Ở ngôi cao nghìn trượng thì nghĩ đến sự khiêm nhường.
  4. Đạt đỉnh cao viên mãn thì nghĩ đến việc giảm bớt tự mãn.
  5. Hưởng thụ an nhàn thì nghĩ đến việc tiết chế dục vọng.
  6. Sống trong thái bình thì nghĩ đến nguy nan mai sau.
  7. Muốn tránh bị che mắt thì phải rộng đường đón nhận can gián.
  8. Ghét kẻ tà nịnh thì trước hết phải giữ mình ngay chính.
  9. Khi ban thưởng, không vì vui mừng nhất thời mà thưởng quá tay.
  10. Khi hành phạt, không vì cơn giận bộc phát mà phạt quá nặng.

Đến năm Trinh Quán thứ 13 (639), khi triều đình bắt đầu có dấu hiệu hưởng lạc, Ngụy Trưng thẳng thắn dâng "Thập Tiệm Sớ" vạch rõ mười điểm suy giảm đạo đức và ý chí của hoàng đế: từ việc xa hoa lãng phí, lạm dụng sức dân, gần gũi kẻ xu nịnh cho đến thói ham săn bắn và kiêu binh khởi chiến.

Đọc xong bản sớ đanh thép, Thái Tông không những không giận dữ mà còn sai người khắc toàn văn lên tấm bình phong ngự phòng, ngày đêm nhìn vào đó để tự soi chiếu và sửa mình.

Tấm gương soi đời đời

Năm 643, Ngụy Trưng lâm bệnh nặng rồi qua đời. Đường Thái Tông đau xót khôn nguôi, rơi lệ than rằng:

"Lấy đồng làm gương, có thể chỉnh đốn y phục; lấy lịch sử làm gương, có thể hiểu sự hưng suy của triều đại; lấy con người làm gương, có thể thấu rõ lẽ được mất của bản thân. Trẫm luôn gìn giữ ba tấm gương ấy để răn mình khỏi lầm lỗi. Nay Ngụy Trưng qua đời, trẫm đã mất đi một tấm gương sáng nhất."

Một vị minh quân có dung lượng biển lớn, kết hợp cùng một vị lương thần dũng cảm, tận trung. Mối quan hệ tương tri đặc biệt giữa Đường Thái Tông và Ngụy Trưng đã đặt nền móng cho thời kỳ thịnh trị rực rỡ bậc nhất lịch sử – "Trinh Quán chi trị", để lại bài học quản trị và tu thân mẫu mực cho muôn đời sau.

Theo Soundofhope
Bình Nhi biên dịch

Đọc tiếp