Câu chuyện lịch sử và văn hóa của đôi đũa
Đũa là một phát minh độc đáo của nền văn minh phương Đông. Dù có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ đại, phạm vi sử dụng của đũa ngày nay đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, trở thành nét văn hóa ẩm thực đặc trưng tại Việt Nam, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, đồng thời ngày càng trở nên quen thuộc tại nhiều quốc gia phương Tây.
Nguồn gốc lịch sử và những truyền thuyết
Về mặt khảo cổ học, các nhà nghiên cứu từng tìm thấy đôi đũa bằng ngà voi được chế tác tinh xảo tại Trung Quốc với niên đại ước tính khoảng hơn 3.000 năm trước. Điều này chứng minh đũa đã xuất hiện từ rất sớm trong đời sống sinh hoạt của con người.
Trong cuốn Ba ngàn năm đôi đũa, nhà nghiên cứu văn hóa Lam Tường đã tổng hợp ba truyền thuyết dân gian nổi tiếng lý giải về nguồn gốc của vật dụng này:
- Tích Khương Tử Nha và “thần điểu”: Chuyện kể rằng người vợ vì không chịu nổi cảnh nghèo khó nên đã bỏ thuốc độc vào thịt nhằm mưu hại chồng. Mỗi khi Khương Tử Nha định dùng tay bốc thịt, một con chim thần lại bay đến mổ vào mu bàn tay ông. Sau ba lần như vậy, ông lần theo chim lên núi và được chim chỉ cho hai nhánh tre nhỏ. Khi ông mang hai nhánh que ấy về gắp thức ăn, đầu que lập tức bốc lên làn khói xanh, vạch trần âm mưu đầu độc. Từ đó, ông luôn dùng hai que tre để gắp thức ăn nhằm thử độc và gắp đồ ăn thuận tiện hơn. Dân làng thấy vậy liền học theo.
- Tích nàng Đát Kỷ: Trụ Vương tính tình bạo ngược, đồ ăn dâng lên nếu quá nóng hay quá nguội đều khiến ông nổi giận xử phạt đầu bếp. Để làm vừa lòng vua, Đát Kỷ đã nhanh trí rút hai chiếc trâm ngọc trên đầu gắp thức ăn, thổi cho bớt nóng rồi mới dâng vua thưởng thức. Cung nữ và quan lại thấy tiện dụng nên bắt chước làm theo, từ đó hình thành thói quen dùng đũa.
- Truyền thuyết thời vua Đại Vũ: Khi Đại Vũ phụng mệnh vua Thuấn đi trị thủy, ông làm việc quên mình đến mức ba lần đi qua cửa nhà mà không ghé vào. Trong một lần dừng chân trên đảo hoang, thức ăn trong nồi đang sôi sùng sục mà thời gian lại gấp rút, ông bèn bẻ hai nhánh cây bên đường để gắp thức ăn nóng. Binh lính thấy cách này vừa nhanh vừa không bỏng tay nên đồng loạt học theo.
Ghi chép văn tự sớm nhất về đũa xuất hiện trong thiên Dụ Chí của sách Hàn Phi Tử: “Tích giả Trụ vi tượng trứ, nhi Cơ Tử bố” (Xưa kia Trụ Vương làm đũa ngà voi, Cơ Tử thấy vậy mà lo sợ vì thói xa hoa). Trụ Vương là vị vua cuối thời nhà Thương, chứng tỏ đũa đã đi vào thư tịch cổ ít nhất hơn 3.000 năm.
Về mặt ngôn ngữ, thời Tiên Tần, đũa được gọi là “Kẹp” (夹 - giáp). Đến thời nhà Hán, sách Sử Ký của Tư Mã Thiên gọi là “Trứ” (箸). Sang thời nhà Minh, giới thuyền chài vùng Ngô Trung kiêng âm “Trứ” vì đồng âm với từ “Trú” (住 - dừng lại, hàm ý thuyền bị mắc cạn), nên họ đổi gọi thành “Khoái” (快 - nhanh chóng). Về sau, vì đũa chủ yếu làm từ tre trúc, người ta đã thêm bộ trúc (竹) lên đầu chữ “Khoái” (快) để tạo nên chữ “Đũa” (筷 - khoái tử) như ngày nay.
Giai thoại tình yêu và biểu tượng hôn nhân
Trong văn hóa phương Đông, đũa không chỉ là dụng cụ ăn uống mà còn gắn liền với tình cảm lứa đôi vì tính chất luôn đi thành một cặp bền chặt, không thể tách rời.
Giai thoại nổi tiếng nhất thuộc về Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân. Khi hẹn ước trọn đời, Tư Mã Tương Như đã trao cho người thương một đôi đũa làm tín vật định tình, kèm theo bài thơ:
“Thuở nhỏ xanh xanh, về già vàng,
Mỗi khi kết đôi, nguyện đồng tâm.
Chớ bảo trong đời luôn vị ngọt,
Đắng cay ngọt bùi, cùng sẻ chia.”
Bài thơ mượn hình ảnh đôi đũa tre cùng trải qua năm tháng để gửi gắm ước nguyện thủy chung, đồng cam cộng khổ. Cũng từ ý nghĩa biểu trưng này, đôi đũa đã trở thành một sính lễ chúc phúc quen thuộc dành cho các cặp tân hôn.
Đặc trưng văn hóa dùng đũa tại các quốc gia Á Đông
Dù cùng sử dụng đũa, mỗi quốc gia tại Đông Á và Đông Nam Á lại phát triển những nét đặc trưng riêng biệt phù hợp với tập quán sinh hoạt và ẩm thực bản địa:
- Việt Nam: Đũa truyền thống thường làm bằng tre hoặc gỗ mộc tự nhiên, thân tròn, kích thước vừa phải và đầu gắp không quá nhọn. Trong mâm cơm gia đình người Việt, phép lịch sự đòi hỏi người trẻ phải so đũa, so đều hai đầu và mời người lớn tuổi trước khi ăn.
- Trung Quốc: Do văn hóa ngồi bàn xoay lớn và cùng chia sẻ món ăn từ các đĩa lớn đặt ở giữa, đũa Trung Quốc thường dài, thân thẳng và đầu tròn để tiện với thức ăn từ xa.
- Nhật Bản: Đũa Nhật thường ngắn hơn, đầu đũa vót rất nhọn để thuận tiện cho việc gỡ xương cá và ăn các phần cơm suất riêng lẻ (teishoku). Người Nhật còn có loại đũa nấu ăn chuyên dụng dài bản gọi là saibashi (菜箸). Đũa dùng một lần (waribashi) cũng rất phổ biến tại Nhật, bắt nguồn từ tinh thần "Nhất kỳ nhất hội" (Ichigo Ichie) trong văn hóa trà đạo thời Azuchi-Momoyama. Người Nhật có tới khoảng 25 điều kiêng kỵ khi dùng đũa (như không cắm đũa đứng vào bát cơm, không dùng đũa truyền thức ăn cho nhau vì gợi nhắc nghi thức tang lễ).
- Bán đảo Triều Tiên (Hàn Quốc & Triều Tiên): Khác với các nước láng giềng, người Triều Tiên chủ yếu dùng đũa kim loại (xưa là đồng, sắt; nay là inox) có thân dẹt. Nguyên nhân xuất phát từ việc họ dùng nhiều gia vị màu đỏ sẫm dễ làm ố đũa gỗ, đồng thời đũa kim loại truyền thống thời xưa còn giúp thử độc tính. Khi ăn, người Hàn kiêng bưng bát cơm lên mà đặt bát trên bàn, dùng thìa để ăn cơm/canh và dùng đũa dẹt chỉ để gắp món ăn kèm (banchan).
Vượt lên trên công năng của một công cụ ẩm thực đơn thuần, đôi đũa mang trong mình cả một bề dày triết lý ứng xử Á Đông: Thể hiện sự kính trên nhường dưới, tinh thần hòa hợp gia đình và nề nếp gia phong qua từng bữa ăn thường nhật.
Theo Secretchina
Bình Nhi biên dịch