Âm nhạc liên thông trời đất, khiến quỷ thần rơi lệ
Giai đoạn từ khoảng thế kỷ 8 đến thế kỷ 3 trước Công nguyên được các nhà sử học hiện đại gọi là "Thời đại Trục" (Axial Age) của văn minh nhân loại. Đó là thời kỳ xuất hiện đồng loạt những bậc đại thánh triết cả ở phương Đông lẫn phương Tây: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Ấn Độ; Lão Tử, Khổng Tử tại Trung Hoa; Socrates, Plato tại Hy Lạp... Cũng trong dòng chảy rực rỡ ấy, nền văn minh Hoa Hạ đã sản sinh ra những nhân vật kiệt xuất như Binh Thánh Tôn Tử và Nhạc Thánh Sư Khoáng.
Bậc thầy âm luật và những tuyệt khúc thiên cổ
Vào thời Xuân Thu, trên vùng đất Trung Hoa chư hầu phân tranh, Sư Khoáng (tự Tử Dã, người đất Nam Hòa, Ký Châu) nổi danh là bậc nhạc sư kỳ tài của nước Tấn. Ông làm quan dưới thời trị vì của Tấn Điệu Công (573 TCN – 558 TCN) và Tấn Bình Công (557 TCN – 532 TCN). Sư Khoáng tinh thông âm luật, diễn tấu thành thạo nhiều loại nhạc cụ của cả phương Nam lẫn phương Bắc, đặc biệt là tài nghệ gảy đàn cổ cầm đạt đến cảnh giới xuất thần nhập hóa. Tương truyền, hai khúc nhạc cổ phong tao nhã bậc nhất là "Dương Xuân" và "Bạch Tuyết" đều do chính ông sáng tác.
Tài nghệ của Sư Khoáng cao siêu đến mức nào?
Sử sách ghi lại rằng mỗi khi ông so dây gảy đàn, ngựa đang ăn cỏ cũng dừng lại vểnh tai lắng nghe, chim chóc đang bay lượn cũng ngẩn ngơ đánh rơi cả mồi trong miệng.
Có lần, Tấn Bình Công muốn nghe một khúc nhạc bi ai. Sư Khoáng khẽ chạm tay vào phím đàn, âm thanh ai oán như khóc như than vang vọng. Bỗng nhiên, một đàn hạc trắng từ trên trời bay sà xuống sân rồng, uyển chuyển múa lượn theo từng nhịp điệu.
Bình Công chưa thỏa mãn, ép ông đàn tiếp khúc nhạc bi thương tột cùng. Sư Khoáng can ngăn rằng đức hạnh của quân vương chưa đủ dày, nếu cố nghe ắt rước họa vào thân. Song Tấn Bình Công nhất quyết ép buộc. Bất đắc dĩ, Sư Khoáng đành cất tiếng đàn. Vừa dứt khúc dạo, bầu trời quang đãng bỗng chốc mây đen giăng kín, cuồng phong gầm thét cuốn theo mưa lớn làm tốc mái ngói, xé toạc rèm trướng cung điện. Tấn Bình Công sợ hãi tột độ, phải vội vã tháo chạy.
Thính giác siêu phàm và khả năng thấu suốt họa phúc
Sư Khoáng bẩm sinh bị mù, nhưng đổi lại thính giác của ông nhạy bén đến mức phi thường, có thể phân biệt cao độ âm thanh chuẩn xác tuyệt đối.
- Thẩm âm đúc chuông: Tấn Bình Công từng cho đúc một quả đại hồng chung. Các nhạc sư trong cung đều tấm tắc khen tiếng chuông chuẩn mực, duy chỉ có Sư Khoáng khẳng định âm thanh bị lệch. Về sau, khi danh sư Sư Quyên của nước Vệ tới kiểm nghiệm, quả nhiên âm sắc của quả chuông chưa hề đạt chuẩn.
- Nguyên mẫu Thần hộ pháp: Trong văn hóa Đạo giáo, Thuận Phong Nhĩ — vị thần có khả năng nghe thấu âm thanh ngàn dặm — được tương truyền lấy nguyên mẫu từ chính đôi tai thông tuệ của Sư Khoáng.
Kỳ diệu hơn cả, Sư Khoáng còn có thể nghe tiếng nhạc mà đoán biết điềm lành dữ, họa phúc của quốc gia.
Khi nước Sở hùng mạnh đem quân đánh nước Trịnh nhỏ yếu, triều thần nước Tấn lo sợ Sở sẽ thừa thắng tấn công nước mình. Tấn Bình Công triệu Sư Khoáng đến hỏi kế. Sư Khoáng vừa gảy đàn vừa cất tiếng hát đối chiếu điệu nhạc Nam - Bắc, rồi khẳng định: "Khí sắc phương Nam yếu ớt, nước Sở ắt bại." Quả nhiên ít ngày sau, tin báo thắng trận từ nước Trịnh truyền về: quân Sở đại bại.
Trong một điển tích khác, khi Vệ Linh Công sang chúc mừng cung điện mới của Tấn Bình Công và sai nhạc sư Sư Quyên gảy một khúc nhạc mới nghe được bên bờ sông Bộc, Sư Khoáng lập tức đứng dậy ngăn lại:
"Đây là thứ 'vong quốc chi âm' (nhạc mất nước)! Đây là khúc nhạc dâm mỹ do Sư Diên sáng tác phục vụ Trụ Vương thời Thương. Khi Chu Vũ Vương phạt Trụ, Sư Diên đã gieo mình xuống sông Bộc tự vẫn. Khúc nhạc này nghe ở bờ sông Bộc, tuyệt đối không thể tấu lên!"
Dùng "Nhạc" để trị quốc và giáo hóa lòng người
Sư Khoáng quan niệm: Âm nhạc có thể chấn hưng một quốc gia, nhưng cũng có thể đẩy một giang sơn vào diệt vong.
Âm nhạc thuần chính là sự hòa hợp cùng quy luật vận hành của trời đất. Khi quân vương và lê dân lắng nghe chính nhạc, tâm hồn sẽ được gột rửa bởi đạo đức, hành vi được ước thúc bởi lễ nghĩa, từ đó đất nước tự khắc thái bình, nhân dân an cư lạc nghiệp. Ngược lại, thứ âm nhạc ủy mị, tà dâm, kích động dục vọng sẽ làm xói mòn ý chí con người, kéo theo sự suy vong của một triều đại.
Không chỉ là một bậc thầy âm nhạc, Sư Khoáng còn là người có tầm nhìn chính trị kiệt xuất. Khi Tề Cảnh Công sang thăm nước Tấn và ba lần thỉnh giáo ông về đạo trị nước, Sư Khoáng trước sau chỉ đáp một câu ngắn gọn mà sâu xa:
"Đạo của bậc quân vương, cốt ở việc ban ân huệ cho muôn dân."
Tề Cảnh Công nghe theo, khi trở về nước liền mở kho phát lương, thi hành nhiều chính sách an dân, nhờ đó thu phục được lòng người và củng cố vững chắc nền chính trị.
Lời kết
Thiên Nhạc Ký trong kinh Lễ Ký từng đúc kết:
“Quân tử nhạc đắc kỳ đạo, tiểu nhân nhạc đắc kỳ dục. Dĩ đạo chế dục, tắc nhạc nhi bất loạn; dĩ dục vong đạo, tắc hoặc nhi bất nhạc.”
(Người quân tử thưởng nhạc để đạt đến đạo lý, kẻ tiểu nhân nghe nhạc để thỏa mãn dục vọng. Lấy đạo đức ức chế dục vọng thì vui mà không loạn; lấy dục vọng vứt bỏ đạo đức thì mê muội mà chẳng còn niềm vui chân chính).
Âm nhạc thuần chính mang năng lượng giáo hóa vô hình, có thể tịnh hóa nhân tâm và nâng đỡ phong hóa xã hội. Thấu hiểu sâu sắc sứ mệnh ấy, Sư Khoáng đã dùng cả cuộc đời để mượn tiếng đàn dâng lời can gián vua, mượn âm luật chấn hưng kỷ cương, lưu danh muôn thuở như một bậc Thánh nhân đức tài vẹn toàn.
Theo Secretchina
Bình Nhi biên dịch